Monday, December 21, 2020

14 đặc điểm chung của người thành công



“Tôi thường xuyên phỏng vấn những người thành công cho tạp chí Forbes. Kể từ năm 2007, tôi đã nói chuyện với hơn 1.200 CEO, người nổi tiếng, các tác giả, chính trị gia, thậm chí là một phi hành gia nữa. Khi nói chuyện với họ, tôi luôn nhận thấy những điểm chung giữa họ - những tố chất giúp họ thành công”.

Một trong những tác giả sách bán chạy nhất của New York Times - Dan Schawbel đã rút ra 14 đặc điểm chung của những người thành công.


Saturday, December 19, 2020

Nữ sinh Thăng Long diễn nội y





Trao đổi với VietNamNet chiều 18/12, hiệu trưởng Trường ĐH Thăng Long Phan Huy Phú khẳng định: Trường thấy đây là hoạt động bình thường của sinh viên. Trước khi chương trình diễn ra chúng tôi đã kiểm tra và thấy ổn, rất lành mạnh…




Khi những hình ảnh này xuất hiện, một số ý kiến cho rằng đây là hành động phản cảm, "cởi" như vậy thì trường học sẽ thành quán bar.
"Nhiều trường vẫn có những đêm dạ hội, sinh viên trang phục quyến rũ nhưng vẫn sang trọng chứ không hề lố lăng như vậy. Và rằng không thể đánh đồng các cuộc thi nhan sắc với một chương trình được tổ chức trong môi trường sư phạm được" - nhiều người tham gia bình luận.

Nói thêm về ý tưởng, ông Phạm Trung Tự, Bí thư đoàn Trường ĐH Thăng Long cho biết chương trình do Đoàn thanh niên phối hợp với Hội Sinh viên Trường tổ chức, lấy ý tưởng dựa trên show diễn nội y Victoria’s Secret nổi tiếng được cả thế giới trông đợi hàng năm.
Từ “người mẫu” đến các thiết kế cũng do các sinh viên thực hiện.


Thursday, November 12, 2020

Tiêu chuẩn chọn tiếp viên kỳ lạ trên thế giới.



Chỉ tuyển nữ giới nhẹ cân, ưu tiên tiếp viên có chồng con, quy định giới hạn chiều cao theo từng loại máy bay... là những tiêu chuẩn chọn tiếp viên kỳ lạ trên thế giới.




Chỉ tuyển nữ giới nhẹ cân, ưu tiên tiếp viên có chồng con, quy định giới hạn chiều cao theo từng loại máy bay... là những tiêu chuẩn chọn tiếp viên kỳ lạ trên thế giới.

Tuyển tiếp viên nữ nhẹ cân để giảm chi phí


Hãng hàng không Ấn Độ Go Air đã thông qua một chính sách tuyển dụng kỳ quặc: chỉ tuyển tiếp viên nữ nhẹ cân. Lời giải thích cho quy định này là giảm tải trọng trên mỗi chuyến bay, nhằm tiết kiệm chi phí đang tăng lên chóng mặt.

Theo tính toán của Go Air, một tiếp viên nữ thường nhẹ cân hơn đồng nghiệp nam khoảng 15-20kg, trong khi cứ mỗi kg tải trọng tăng thêm trên chuyến bay sẽ hao tốn chi phí nhiên liệu thêm 0,05 USD/giờ bay, tức khoảng nửa triệu USD một năm nếu tính thêm các khoản liên quan. Trước số liệu này, Go Air đã đặt mục tiêu thay thế toàn bộ tiếp viên nam của hãng thành nữ, sử dụng trên tất cả các chuyến bay để tiết kiệm chi phí một cách tối đa.

Ưu tiên người đã có chồng con


Thông thường, nghề tiếp viên hàng không giới hạn độ tuổi dưới 35, nhưng hãng hàng không giá rẻ Spring Air của Trung Quốc lại gây bất ngờ khi tìm kiếm ứng viên có độ tuổi tối đa lên tới 45, với ưu tiên cao nhất dành cho người đã kết hôn và có con. Yêu cầu tuyển dụng này được thông qua sau kết quả khảo sát của hãng với khách hàng và nhận được phản hồi về nhu cầu tìm kiếm các tiếp viên hàng không lớn tuổi, có kinh nghiệm, giúp đa dạng hóa nhân viên phục vụ trên các chuyến bay của hãng.

Trong một thông tin tuyển dụng tiếp viên hàng không thời vụ mới đây của Vietnam Airlines, giới hạn tuổi tuyển chọn cũng lên tới 45 tuổi. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này chỉ áp dụng với các ứng viên là tiếp viên cũ của hãng từng nghỉ việc vì lý do cá nhân, có sức khỏe và ngoại hình vẫn phù hợp với nghề.

Giới hạn chiều cao khác nhau cho từng loại máy bay



Theo tiêu chuẩn của các hãng hàng không trong nước cũng như thế giới, chiều cao tiêu chuẩn của nghề tiếp viên trung bình là từ 1,6m đến 1,85m. Trong khi các hãng hàng không nước ngoài ghi phần hạn chế chiều cao khá chi tiết, kèm theo quy định tầm với (thông thường vượt 2m nếu với tay hết cỡ và kiễng chân), thì các hãng hàng không của Việt Nam đều không có quy định tầm với, thậm chí Air Mekong còn bỏ ngỏ quy định chiều cao tối đa.

Một vài hãng hàng không lại có quy định chiều cao khác nhau cho phi hành đoàn theo từng loại máy bay. Ví như nếu làm việc trên những chiếc chuyên cơ nhỏ, yêu cầu với tiếp viên về chiều cao tối đa là 1,7m; còn với các loại máy bay thương mại thông thường, yêu cầu với nữ là từ 1,6m-1,75m, còn với nam là dưới 1,85m.

Sự khác biệt bằng cấp giữa tiếp viên các hãng bay



Là một nghề đòi hỏi kỹ năng nhiều hơn trình độ học vấn, tiếp viên hàng không được coi như cơ hội lớn dành cho những người tìm kiếm công việc không yêu cầu bằng cấp cao nhưng có mức lương trong mơ. Ví như hãng hàng không hàng đầu thế giới Emirates Airlines (UAE), yêu cầu trình độ học vấn của ứng viên chỉ là tốt nghiệp trung học phổ thông. Trong khi với Etihad Airways, yêu cầu thậm chỉ chỉ ở mức trung học cơ sở. Ở Việt Nam, tiêu chuẩn của các hãng là tốt nghiệp trung học phổ thông, vì thế, đây được xem là nghề "hot" với nhiều bạn trẻ.

Tuy nhiên, với một số hãng bay như Delta Airlines (Mỹ), chỉ những ứng viên tốt nghiệp đại học mới được xét tuyển trở thành tiếp viên, và tỷ lệ "chọi" thậm chí còn cao hơn cả thi vào trường Harvard, với mức 1/100. Thông thạo ít nhất 2 ngôn ngữ quốc tế là điểm cộng đối với các ứng viên trong ngành này.

(Theo bachkhoathu )

Một tủ sách tâm lý học giáo dục cho công cuộc cải tổ lớn của giáo dục Việt Nam




Hoàng Hưng ( https://canhbuom.edu.vn )
 






Nhóm Cánh Buồm ra đời năm 2009, nó từ chối tham gia những cuộc “phản biện” mang tính lý thuyết, nó công bố dần những cuốn sách giáo khoa tiểu học hàm chứa một định hướng Tâm lý học Giáo dục (TLHGD). Có thể thấy một mối quan tâm lý thuyết mang tính TLHGD nào đó qua việc đặt tên những cuộc hội thảo từng năm của nhóm, Hiểu trẻ em–Dạy trẻ em (2009), Chào lớp Một (2010), Tự học–Tự giáo dục (2011), Em biết cách học (2012). Định hướng hoạt động năm 2013 của nhóm là “Năm sư phạm” với việc triển khai Câu lạc bộ Sư phạm Cánh Buồm, và hôm nay với việc công bố ba cuốn “Cẩm nang sư phạm” xác nhận một mối quan tâm quán xuyến đến cái lý thuyết làm nền cho các hoạt động của mình.

Từ hai năm nay, nhóm Cánh Buồm tổ chức dịch và chuẩn bị công bố vào năm 2014 ba tác phẩm của Jean Piaget (Sự hình thành trí khôn ở trẻ em, Sự tạo dựng cái thực ở trẻ em, Sự tạo thành biểu tượng ở trẻ em) và của Howard Gardner (tái bản Cơ cấu trí khôn, dịch mới Trí khôn phi học đường, Trí khôn sáng tạo). Thật là có căn cứ xác đáng để nêu hai câu hỏi này: (1) Có phải định hướng lý thuyết của nhóm sẽ tập trung vào Tâm lý học Giáo dục? (2) Tại sao nhóm Cánh Buồm lại chọn hai tác giả, nhà tâm lý học Thụy Sĩ Jean Piaget và nhà tâm lý học Mỹ Howard Gardner, để tập trung giới thiệu về bộ môn này?


Trả lời cho câu hỏi (1) có lẽ không khó khăn lắm.

Khi người được phân công tổ chức tủ sách TLHGD Cánh Buồm đưa thông tin về dự án này trên FB, có một nhà văn trẻ rất chịu đọc sách đã comment rằng: “Cháu thấy sách tâm lý đầy các hiệu sách mà nền GD nước nhà ngày càng lụn bại, vậy giờ còn dịch sách TLHGD làm gì? Có phải người ta không biết về lý thuyết GD đâu, mà nguyên nhân ở chỗ khác!”.

Nhưng sự thực có phải sách tâm lý đầy các hiệu sách không? Hãy thử để một buổi tra cứu tổng mục sách TLHGD trong thư viện Quốc gia hay thử dùng công cụ tìm kiếm Google, ta sẽ có kết quả đáng ngạc nhiên về sự nghèo nàn không tưởng tượng nổi: quanh đi quẩn lại là một số giáo trình đại học, mà nội dung không khác nhau là mấy, và hình như bắt nguồn từ các giáo trình Liên Xô đã rất cũ, lại dạy rất chung chung về những vấn đề TLH khái quát chứ không đi vào những lý thuyết mang tính tri thức học hay liên quan đến sự phát triển trí tuệ là điều thiết cốt mà nhà giáo phải nắm rất vững. Không hề có mặt những tác phẩm gốc của các nhà TLH GD hiện đại hàng đầu thế giới như Alfred Bruner, Alfred Binet, John Dewey, Benjamin Bloom, Claparède, Lev Vygotsky…. Có lẽ Howard Gardner là trường hợp hiếm hoi với cuốn “Trí khôn nhiều thành phần” được ra mắt mấy năm gần đây (Giáo dục, 1997, 1998, Tri thức, tái bản có bổ sung, 2013).

Như vậy, hình như xã hội VN, hay nói hẹp là Giáo dục VN không có nhu cầu về lý thuyết TLHGD? Tất nhiên, người ta có thể cứ sống mà không có nhu cầu biết Aristotle, Hegel hay Kant…, cứ làm ăn kinh tế mà không cần biết đến Adam Smith, Keynes…, cứ làm thơ viết văn mà không cần Saussure, Roland Barthes… Nhưng với một nền GD quốc dân thì khác. Sau hàng chục lần mò mẫm sửa đổi, cải cách, nền GD VN đi đến tình trạng như hiện nay, phải chăng có nguyên nhân sâu xa từ hội chứng “sợ và ghét lý thuyết” của người VN, kể cả của trí thức VN?

Mười sáu cuốn (chưa đầy đủ) trong bộ sách giáo khoa tiểu học Cánh Buồm ra đời trong hoàn cảnh ấy. Xã hội chào đón bộ sách vì thấy ở đó có những điều mới mẻ, có thể là sản phẩm kết tinh kinh nghiệm của nhiều nhà sư phạm thuộc nhiều dòng “cải cách” khác nhau. Xã hội cũng hào hứng trước nguyên lý của nền Giáo dục hiện đại như tuyên ngôn của nhóm Cánh Buồm là: tổ chức cho học sinh tự học, tự giáo dục theo phuơng châm “học bằng cách làm” (learning by doing). Dù ưu ái đến bao nhiêu chăng nữa, thì vẫn cứ còn câu hỏi được cử toạ nêu lên, đó là: nguyên lý Giáo dục hiện đại của Cánh Buồm dựa trên lý thuyết khoa học tâm lý GD nào?

Câu hỏi này dã được trả lời ở một đoạn bên trên. Mặt khác, do chỗ sức nhóm Cánh Buồm có hạn, nên nó phải bắt đầu với những tác giả được nó đánh giá là tiêu biểu: Jean Piaget và Howard Gardner cùng những công trình tâm lý học mang tính gợi ý hơn cả của các ông.

Jean Piaget là người phát triển tâm lý học theo tư tưởng chủ đạo là sự phát triển trí khôn. Jean Piaget đã tiến hành nghiên cứu tâm lý học trên những trẻ em bình thường. Trước Piaget, nhà sinh lý học Maximilian Wundt ở Đức mới chỉ có công đưa tâm lý học vào con đường thực nghiệm và cho thấy có thể đo nghiệm được những kết quả nghiên cứu tâm lý con người. Tiếp đó, bác sĩ y khoa người Pháp Alfred Binet tiến hành những đo nghiệm tâm lý trẻ em mà mục đích chỉ nhằm loại bỏ được những em không đủ khả năng theo học bậc tiểu học bắt buộc. Bộ đo nghiệm Binet vượt Đại Tây dương sang Mỹ đã được phát triển hết sức thông minh thành bộ Binet-Simon, đã dùng những đo nghiệm rộng rãi và bớt tốn kém trên động vật để xác định những thao tác học tập. Thế nhưng, khi từ bên kia Đại Tây dương trở lại bờ châu Âu bên này, thì cũng mang theo thuyết hành vi (behaviorism) đang ngự trị. Behaviorism trong Giáo dục trông cậy tất cả vào người thầy truyền thụ kiến thức. Ông thầy đưa ra kiến thức, rồi quan sát, đo đạc, cải tiến những thay đổi mang tính hành vi trong kiến thức mà học trò tiếp nhận. Việc học như thế có bản chất là một đáp ứng dạng phản xạ có điều kiện hay sự ghi nhớ và lặp lại các khuôn mẫu hành vi cho đến khi chúng trở thành tự động. Nói một cách đơn giản, thuyết hành vi coi kiến thức như những khuôn mẫu được làm hằn vào não đứa trẻ như vào một cục sáp mềm.

Jean Piaget không rơi vào trạng thái có phần nào mang tính chất giáo dục kiểu nước Phổ (Prussian) mà mục tiêu là đào tạo nhân công cho nền đại kỹ nghệ. Jean Piaget đã thay đổi căn bản quan niệm về sự học của đứa trẻ. Ông được coi là nhà tâm lý học nhận thức đã hoàn chỉnh lý thuyết “xây dựng” (Constructivism) trong GD. Thuyết này gắn bó sự phát triển trí khôn của chủ thể với sự trưởng thành tự nhiên về mặt sinh học của chính chủ thể đó. Ngay từ sơ sinh, chủ thể đã tự học, mà cách thức tự học chính là những phản xạ. Cách “học tập” tự nhiên ban đầu đó được Piaget đặt tên là trình độ trí khôn cảm giác-vận động trước khi trở thành trí khôn thao tác, trước khi thành trí khôn cụ thể, trí khôn trừu tượng. Các “kiến thức” được phát triển ở con người khi thông tin mới đi vào tiếp xúc với kiến thức đã có trong con người nhờ những kinh nghiệm trước đó và đã được “xây dựng” trong những cấu trúc tư duy. Vậy kiến thức là cái được sáng tạo trong quá trình chủ thể khám phá thế giới. Đứa trẻ tự tạo nên kiến thức có nghĩa là làm nên thế giới của chính mình từ kinh nghiệm, thay đổi nó từ chỗ hỗn loạn đến chỗ có tổ chức. Và theo cách đó, Piaget tin rằng một người thầy chủ yếu là người tạo điều kiện thuận lợi (facilitator), quan sát và hướng dẫn học sinh xây dựng nên kiến thức của chính chúng, hơn là người truyền thụ kiến thức.

Đóng góp của Piaget với GD được tóm tắt ở những điểm sau: 1. Tập trung vào quá trình tư duy của trẻ hơn là ở sản phẩm cuối cùng (tức là chú trọng phương pháp tạo ra kiến thức hơn là một số kiến thức cụ thể). 2. Nhìn nhận vai trò chủ chốt của việc trẻ tự khai tâm, người lớn cần tích cực tham dự vào hoạt động học của trẻ. 3. Tôn trọng tiến trình phát triển từng bước của trí khôn để GD phù hợp với lứa tuổi của trẻ. 4. Chấp nhận sự khác biệt cá nhân trong phát triển.

Điều thú vị mà có thể ta chưa biết: mãi cho đến thập niên 1960, nền GD Mỹ vẫn còn được coi là rất nặng tính “Phổ” của thuyết hành vi, nghĩa là một nền GD nhắm đào tạo công cụ cho cỗ máy công nghiệp hoá, hầu như chưa biết đến Piaget, cho đến khi những tác phẩm quan trọng nhất của ông được dịch ra và cũng đúng lúc GD Mỹ chín muồi cho một sự thay đổi. Không thể phủ nhận tác động của Piaget đối với thành công ngoạn mục của GD Mỹ trong nửa thế kỷ lại đây (Xem “Jean Piaget's Enlightened Influence on the American Educational System”: voices.yahoo.com).

Chúng ta dễ dàng nhận ra rằng GD VN đã có đủ kinh nghiệm thất bại để thấy thời điểm đã đến cho lý thuyết TLHGD của Piaget phải được coi như tư tưởng chỉ đạo cho mọi toan tính cải cách căn bản nền GD. Mà câu nói sau đây của ông có thể là một triết lý GD mang tính khai minh: “Phần lớn người ta cho rằng giáo dục nghĩa là dẫn dắt đứa trẻ để nó trở thành một người trưởng thành điển hình của xã hội… Nhưng với tôi, giáo dục nghĩa là tạo ra những con người sáng tạo… Ta phải tạo ra các nhà phát minh, các nhà cách tân, không phải những kẻ tuân thủ” (Jean Piaget, Trò chuyện với Jean Claude Bringuier, 1980)

Đó là vài điều rất sơ sài giải thích việc nhóm Cánh Buồm lựa chọn cái «mẫu» Jean Piaget. Còn đây là lý do của việc chọn cái «mẫu» nữa từ nhà tâm lý học Mỹ đương đại Howard Gardner.

Howard Gardner còn rất trẻ, ông sinh năm 1943, khi vào nghề tâm lý học thì ngành học này đã có nhiều thành tựu về tâm lý học phát triển. Ngành học thì phát triển, nhưng cũng để đọng lại những điều có hại cho nền Giáo dục, trong đó điều nguy hại nhất mà H. Gardner chống đối mãnh liệt nhất, đó là hệ thống đo nghiệm tâm trí, đặc biệt là cái chỉ số IQ. H. Gardner coi việc gắn chặt cuộc đời một em bé vào một con số như là tiền định, như là số mệnh, sau khi được hỏi han qua loa bên cây bút chì và tờ giấy trắng, là điều vô lý đến cùng cực, không thể chấp nhận được. Không thể coi IQ là thân phận con người!

H. Gardner rất coi trọng Jean Piaget, thấy ở Piaget người khởi đầu của tâm lý học đích thực. Ông rất tôn trọng những thực hành của Piaget giúp trẻ em ở trường phát triển trí khôn. Song H. Gardner không đồng tình với việc coi trí khôn người như là có một gốc chung duy nhất. H. Gardner đặt câu hỏi: một thiếu niên sinh trưởng ở vùng đảo Thái Bình Dương tuy mù chữ nhưng điều khiển con tàu không bị lạc giữa cả ngàn hòn đảo, em đó có được coi là «thông minh» không? Một tu sĩ Hồi giáo hơn chục năm sống trong tu viện vừa học chữ vừa học thuộc lòng cả bộ Kinh Koran, người đó có được coi là «thông minh» không? Và giữa người nghệ sĩ du ca mù Homer thuộc lòng cả vạn câu thơ và em bé ngồi sáng tác nhạc bên chiếc máy tính điện tử thời nay, hai người ấy có chung một kiểu trí khôn nào không? Những vấn đề như thế, những nghiên cứu sâu vào các loại hồ sơ trí khôn người và các đề án nghiên cứu phát triển tiềm năng người, đã khiến H. Gardner vào năm 40 tuổi (1983) hình thành lý thuyết về những «khung» trí khôn người: trí khôn ngôn ngữ, trí khôn lô gich-toán, trí khôn không gian, trí khôn cơ thể ở dạng động, trí khôn âm nhạc, trí khôn cá nhân hướng nội, và trí khôn cá nhân hướng ngoại.

Ta thấy rõ, lý thuyết tâm lý học Gardner bổ sung cho cách nghiên cứu cổ điển, căn bản của Piaget, sẽ mang lại một không khí tươi mới, dân chủ, cởi mở cho nhà trường.

Xin nói thêm vài lời về việc tại sao lại chọn Piaget và Gardner, phải chăng chọn lựa này cố tình cho thấy chỉ có hai nhà tâm lý học đó là đủ cho nền Giáo dục?

Chắc chắn là không phải vậy rồi! Ngay từ khi thành lập, nhóm Cánh Buồm đã biết thân biết phận, chỉ dám làm những việc mang tính gợi ý – gọi nôm na là «làm mẫu». Vậy thì, Piaget và Gardner cũng chỉ là những cái «mẫu».

Nhà giáo ưu tú Vũ Thế Khôi, cũng là một thành viên cao tuổi của nhóm Cánh Buồm, sau khi thấy các bản thảo dịch Piaget và Gardner, đã nghĩ đến việc dịch Sự phát triển các chức năng thần kinh bậc cao của Lev Vygotsky.

Và chúng tôi cũng còn nghĩ đến công trình khác cũng của Vygotsky về tư duy và ngôn ngữ, những công trình của các nhà tâm lý học sư phạm Nga Xô Viết cũ như A. Luria, Leontiev, V. V. Davydov … Nhưng chắc chắn đó không thể là việc làm của một nhóm Cánh Buồm.

Để kết thúc báo cáo này, cho phép tôi kể một chuyện vui vui có thật. Chúng tôi ngồi làm kế hoạch dịch sách tâm lý học giáo dục với nhau. Và chúng tôi cười phá lên vì thấy mình đang tự giao hẹn phải sống thêm dăm bảy năm, mươi lăm năm nữa, sao mà vô lý! Thế rồi vừa buồn cười và vừa đau khổ chúng tôi đặt ra câu hỏi công việc nhiều quá, ai làm nốt đây?

3 tháng 11 năm 2013

H. H.

Thursday, October 8, 2020

10 bài học cuộc sống nhận ra khi đã quá muộn

Dưới đây là 10 điều bạn cần biết trước khi quá muộn:


bi hc cuc sng, k nng sng



1. Cuộc sống của bạn không phải từ lúc bạn sinh ra cho tới khi bạn qua đời. Cuộc sống của bạn chính là ngay lúc bạn đang thở cho tới hơi thở tiếp theo. Hiện tại – ngay ở đây và ngay lúc này – chính là cuộc sống của bạn. Vì thế, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc bằng sự tử tế và bình an, đừng sợ hãi hay hối tiếc.

2. Cuộc đời rất ngắn ngủi. Đây là cuộc sống của bạn và bạn phải đấu tranh vì nó. Hãy đấu tranh vì những điều đúng đắn. Đấu tranh vì điều mà bạn tin tưởng. Đấu tranh vì những thứ quan trọng với bạn. Đấu tranh vì những người bạn yêu thương và đừng bao giờ quên nói với họ rằng họ có ý nghĩa nhiều như thế nào với bạn. Ngay bây giờ hãy hiểu rằng bạn may mắn khi vẫn còn cơ hội. Vì thế, hãy dừng lại một chút và suy nghĩ. Bất cứ điều gì bạn cần phải làm thì hãy làm ngay trong ngày hôm nay.

3. Những hi sinh của ngày hôm nay sẽ được đền đáp vào ngày mai. Khi nói đến chuyện làm việc chăm chỉ để đạt được một ước muốn nào đó như: tốt nghiệp đại học, gây dựng sự nghiệp hay đạt được một thành tựu nào đó đòi hỏi thời gian và sự quyết tâm, tôi muốn hỏi bạn một điều: “Bạn có sẵn sàng sống một cuộc đời khác với mọi người hay không?”

4. Khi bạn trì hoãn, bạn sẽ trở thành nô lệ của ngày hôm qua. Nhưng khi bạn chủ động, ngày hôm qua sẽ là một người bạn tốt làm động lực thúc đẩy bạn. Vì thế hãy làm điều gì đó ngay từ bây giờ để tương lai phải cảm ơn bạn.

5. Thất bại là bài học mà bạn nhận được. Những điều tốt đẹp sẽ đến với những ai biết hi vọng ngay cả khi họ đã làm người khác thất vọng, với những ai vẫn có niềm tin ngay cả khi họ đã nếm mùi thất bại, với những ai vẫn biết yêu thương ngay cả khi bị tổn thương. Vì thế, đừng bao giờ nuối tiếc về những điều đã xảy ra trong cuộc đời bạn. Chúng ta không thể thay đổi, không thể làm lại hay quên nó. Hãy biến chúng thành những bài học và sống tiếp bằng lòng biết ơn.

6. Bạn là người quan trọng nhất với chính mình. Hạnh phúc là khi bạn cảm thấy hài lòng với bạn thân mà không cần sự đồng tình từ ai đó. Bạn phải đối xử tốt với chính bản thân mình trước khi muốn có mối quan hệ tốt với những người khác. Bạn phải tự thấy bản thân mình có giá trị thì mới có thể tự tin trong mắt người khác.

7. Hành động của một người nói lên sự thật. Trong cuộc đời mình, bạn sẽ gặp nhiều người. Họ có thể nói những lời tốt đẹp nhưng cuối cùng chỉ có hành động của họ mới nói lên họ là ai. Vì thế hãy chú ý tới những gì mà người ta làm. Hành động của họ sẽ nói với bạn mọi thứ bạn cần biết.

8. Những hành động tử tế dù rất nhỏ nhoi cũng sẽ làm thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Hãy mỉm cười với những người mà bạn cảm thấy họ đã có một ngày căng thẳng. Hãy tử tế với họ. Tử tế là sự đầu tư duy nhất không bao giờ vô ích. Bất cứ nơi nào có con người thì đều có cơ hội cho sự tử tế. Hãy học cách cho đi ngay cả khi đó chỉ là một nụ cười. Cho đi không phải vì bạn có quá nhiều, mà vì bạn biết rằng có quá nhiều người cảm thấy họ dường như không có gì cả.

9. Phía sau một cuộc đời tươi đẹp là không ít những đau khổ. Bạn là con người nên không thể hoàn hảo. Dù bị tổn thương nhưng bạn vẫn sống sót. Hãy nghĩ về một đặc ân quý giá là bạn vẫn được sống, được thở, được suy nghĩ, được tận hưởng và được theo đuổi những gì bạn yêu thích. Đôi khi có những nỗi buồn trên đường đời nhưng vẫn còn rất nhiều niềm vui. Chúng ta vẫn phải tiếp tục tiến về phía trước ngay cả khi chúng ta đang tổn thương, vì chúng ta không bao giờ biết điều gì đang đợi chờ mình.

10. Thời gian và trải nghiệm sẽ làm lành những nỗi đau. Cách đây vài năm, khi tôi hỏi bà tôi về việc vượt qua nỗi đau, bà đã giải thích với tôi rằng: Hãy nhìn vào những vòng tròn bên dưới. Những vòng tròn màu đen đại diện cho kinh nghiệm sống của chúng ta. Vòng tròn của bà lớn hơn vì bà nhiều tuổi hơn và có nhiều kinh nghiệm sống hơn cháu. Những vòng tròn đỏ, nhỏ hơn đại diện cho những chuyện buồn trong cuộc sống của chúng ta.

bi hc cuc sng, k nng sng

Giả sử cả hai bà cháu ta đều trải qua những câu chuyện buồn giống nhau trong cuộc đời thì những vòng tròn đỏ của chúng ta sẽ có kích thước bằng nhau. Cháu hãy chú ý đến tỷ lệ kích thước của vòng tròn đỏ so với vòng tròn đen. Vòng tròn đỏ của cháu sẽ có kích thước khá lớn so với vòng tròn đen, trong khi vòng tròn đỏ của bà rất nhỏ so với vòng tròn đen vì kinh nghiệm sống của bà nhiều hơn.

Tôi không muốn giảm bớt tầm quan trọng của chuyện này. Đơn giản là tôi có một cái nhìn khác. Bạn cần hiểu rằng một chuyện buồn trong cuộc sống dù có đau đớn đến mức nào rồi đến một ngày nó sẽ chỉ là một phần rất nhỏ bé so với cả quá khứ của bạn và nó cũng không nghiêm trọng đến mức như bạn nghĩ bây giờ.


  • Nguyễn Thảo(Theo marcandangel)

Wednesday, August 5, 2020

Trọng lượng trẻ sơ sinh có liên quan đến bệnh tự kỷ

Trọng lượng trẻ sơ sinh có liên quan đến bệnh tự kỷ

Một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Anh cho biết những em bé sinh ra với trọng lượng không bình thường, nhiều hơn hoặc ít hơn so với mức chuẩn có nguy cơ bị rối loạn các chức năng trong cơ thể và dễ mắc bệnh tự kỷ.  
Kết quả nghiên cứu của các chuyên gia thuộc đại học Manchester (Anh) cho biết trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ y tế của hơn 40.000 thanh thiếu niên dưới 17 tuổi, họ đã xác định được nguy cơ rối loạn các chức năng trong cơ thể của trẻ được sinh ra có trọng lượng thấp hơn 2,27kg lên đến 63% và trẻ sơ sinh có trọng lượng cao hơn 4,54 kg là 60%.
Kathryn Abel, Trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết một thai nhi không khỏe sẽ có những phát triển thiếu bình thường và đó là nguyên nhân khiến cho đứa trẻ khi chào đời có nguy cơ bị rối loạn các chức năng và mắc bệnh tự kỷ.
Trong khi nghiên cứu đang được thực hiện nhằm xác định chính xác về nguyên nhân và biện pháp khắc phục đối với bệnh tự kỷ, số lượng người mắc bệnh này ngày một gia tăng.
image
Theo ước tính của Trung tâm kiểm soát dịch bệnh ở Mỹ, trung bình 88 trẻ em, có 1 trẻ bị mắc bệnh tự kỷ và tỷ lệ phát triển căn bệnh này ở các bé trai hơn gấp bốn lần các bé gái.
Bệnh tự kỷ là tổng hợp của một loạt rối loạn chức năng trong phát triển, bao gồm các trạng thái như hội chứng Asperger và hội chứng Rett. Các trạng thái này rất khó phát hiện và việc chẩn đoán thường thiếu chính xác đối với trẻ em 2 hoặc 3 tuổi.
Theo chuyên gia Abel, việc chữa trị bệnh tự kỷ là rất khó khăn và các nhà khoa học đang nỗ lực nghiên cứu sâu hơn để tìm ra giải pháp đối phó với căn bệnh này.
Abel cho biết bước đầu tiên mà các chuyên gia cần thực hiện, đó là phải nghiên cứu sâu hơn đối với sự phát triển của thai nhi, xác định chính xác về mối liên quan và những tác động của bào thai đối với não bộ của trẻ sơ sinh trong quá trình phát triển.
Một trong những lĩnh vực nghiên cứu quan trọng đó là theo dõi tình trạng và sự phát triển lành mạnh của các bà mẹ khi mang thai.
bệnh tự kỷ mang thai Sức khoẻ

Monday, August 3, 2020

Nông Thúy Hằng, sinh năm 1999, hiện là sinh viên của Đại học Kinh tế Quốc dân.

‘Em muốn được trở thành niềm tự hào quê hương Hà Giang và dân tộc Tày của mình’
 - đây chính là lí do Nông Thúy Hằng tham gia Hoa hậu Việt Nam 2020. 
image
Nông Thúy Hằng, đến từ Hà Giang, là một trong những thí sinh được chú ý hiện nay của Hoa hậu Việt Nam 2020. Cô gái 21 tuổi đang theo học Viện thương mại và Kinh tế Quốc tế của Đại học Kinh tế Quốc dân, chuyên ngành Kinh doanh Quốc tế. Năm 2019, Thúy Hằng từng thi Miss World Vietnam, có mặt trong top 39.
image
9X được nhận xét có gương mặt khả ái, dễ gây thiện cảm với người đối diện. Khả năng ngoại ngữ tốt là một trong những lợi thế của cô. Nông Thúy Hằng từng có mặt trong top 8 người đẹp truyền thông, được đánh giá cao về giao tiếp, ứng xử.
image
Thúy Hằng trải lòng khi dừng chân ở top 39 Miss World Vietnam, cô cảm thấy hơi buồn nhưng sau đó nhanh chóng lấy lại tinh thần. Bởi với cô, điều quan trọng nhất mình có được chính là những trải nghiệm, kỹ năng cần thiết. Bước ra khỏi cuộc thi, cô thấy bản thân trưởng thành hơn.
image
Khi được hỏi việc tập luyện giữ dáng để chuẩn bị cho Hoa hậu Việt Nam, nữ sinh bộc bạch: “Tôi tập gym cùng huấn luyện viên riêng, các bài tập khá nặng. Cơ địa tôi dễ tăng cân nên phải tập đều và ăn kiêng. Khoảng một năm trở lại đây, tôi luôn ăn theo chế độ đặc biệt - cắt gần như hoàn toàn tinh bột và bù lại bằng rau củ quả. Hiện, tôi vẫn cố gắng để có vóc dáng cân đối hơn”.
image
sinh viên Nông Thúy Hằng Hoa hậu Việt Nam Kinh tế Quốc dân Kinh doanh Quốc tế. Miss World Vietnam

Tuesday, June 23, 2020

Chuyện ngược đời trong giáo dục

BS Hồ Hải - Dân Luận

Chia sẻ bài viết này
Về mặt triết học, như tôi đã viết, tư hữu và quyền lực là bản chất của muôn loài, từ thực vật đến động vật, trong đó có con người. Cái cây, ngọn cỏ muốn sinh tồn rễ và táng cây cũng phải chiếm lĩnh một không gian bên dưới và bên trên mặt đất để kiếm ăn mà sống, huống hồ con người. Một thực thể sống nửa thánh thiện, người, và nửa ác quỷ, con. Ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng cho ta thấy rõ điều này.

Chính vì thế mà, không ở đâu trên thế giới này chấm dứt được tình trạng tha hóa và tham nhũng, chỉ có ít hoặc nhiều do thể chế chính trị góp sức nó tăng hoặc giảm mà thôi.

Nên chuyện tha hóa có nguồn gốc từ bản chất của con người. Ở người dân không có quyền lực, tha hóa sẽ làm cho họ phá vỡ lớp vỏ đạo đức mà bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội đã dày công hun đúc tạo nên nhân cách của họ. Khi tha hóa đủ sức bào mòn lớp vỏ đạo đức nhân cách này, một người bình thường sẽ không còn là người nữa, mà là con.

Khi là con, một người bình thường sống theo bản năng động vật. Bốn bản năng sinh tồn của động vật có cả nghĩa đen và nghĩa bóng của nó - ăn, ngủ, quan hệ tình dục và giải quyết những gì gọi là chất thải có độc hại với cơ thể, còn tồn đọng sau khi đã ăn vào, tiêu hóa và chuyển hóa.

Bình thường, việc ăn uống của con người là thuốc để dinh dưỡng và nuôi sống một cơ thể cường tráng chứa đựng một tinh thần minh mẫn. Khi tha hóa, một con người bình thường ăn bất cứ cái gì có thể ăn được, kể cả thịt đồng loại - mồ hôi, nước mắt và kể cả máu của người khác.

Lúc tha hóa, ăn uống được xem là thuốc độc và cũng là chất thải cho bản thân và cho gia đình họ.

Hai hoạt động bản năng còn lại cũng vậy, tồi tệ hơn cả việc ăn uống và thải ra. Họ không chỉ ngủ và quan hệ tình dục với người trăm năm mà ngủ lang chạ với bất kỳ ai, kể cả hãm hiếp con ruột của mình.

Nhưng khi là một con người có chức quyền trong xã hội, tha hóa được mô tả thăng hoa lên một cấp cao hơn - gọi là tham nhũng. Không có quyền lực thì không được gọi là tham nhũng, mà chỉ gọi là tha hóa đạo dức và nhân cách sống.

Về mặt xã hội học, chỉ có những tầng lớp tinh hoa - elite - thì mới được dùng từ tham nhũng. Hay nói cách khác, tham nhũng chỉ có ở những con người ưu tú. Họ có quyền lực, có mưu sâu, kế hiểm để nắm vận mệnh quốc gia dân tộc. Nhưng khi lớp vỏ đạo đức nhân cách của họ mỏng, không đủ sức chịu đựng với những cám dỗ của quyền lực ở đời, để bản năng động vật trổi dậy phá vở, và họ trở thành kẻ tham nhũng.

Lúc tham nhũng, mọi hành động không chỉ vượt qua vỏ dày đạo đức và nhân cách, mà còn lách qua kẻ hở hoặc ngồi trên luật pháp để thực hiện bốn bản năng động vật, nhờ vào tầng lớp ưu tú sở hữu được quyền lực, mà không ai chạm tới được.

Ăn và thải của tham nhũng được nâng lên một bậc cao ngang tầm với tầng lớp ưu tú. Chất độc lúc họ ăn và thải ra không chỉ độc với bản thân và gia đình họ như một người bình thường, mà còn độc cho cả môi trường giáo dục và xã hội.

Hai hoạt động bản năng còn lại của tham nhũng còn ghê gớm hơn nhiều. Lang chạ với kẻ thù của những con người ưu tú được xem là họa mất nước. Nên tham nhũng mới được xem là giặc nội xâm.

Do vậy mà, vấn đề phòng và chống tham nhũng là vấn đề không chỉ tạo ra một con người có lớp vỏ đạo đức nhân cách cao, mà còn đòi hỏi một nền chính trị tốt có cấu trúc vững vàng. Một nền chính trị tốt có cấu trúc vững vàng là một nền chính trị có chế độ tản quyền cao, chứ không phải một nền chính trị có chế độ tập quyền cao như ở Việt Nam hiện nay.

Vì mọi quyền hành hiện nay trong chế độ ở Việt Nam đều tập trung vào trong tay của tầng lớp ưu tú của đảng cầm quyền. Nên tham nhũng ngày càng nặng nề, nhưng với cái cách phê và tự phê, cùng nhau bỏ phiếu tín nhiệm trong đảng như vừa qua, thì xem như một hành động bất lực với tham nhũng. Ai đâu dại gì phải tự chặt đi cánh tay của mình? Đó là lý do tại sao việc phòng chống tham nhũng thất bại.

Song, tất cả những điều trên là đối với người trưởng thành, do điều kiện khách quan của nhà trường, gia đình và xã hội tác động vào để điều kiện chủ thể bị tha hóa hoặc tham nhũng tùy theo tầng lớp thấp cao trong xã hội.

Đối với trẻ con thì khác, nhân tri sơ tính bổn thiện, đó là nguyên lý và là xuất phát điểm của tâm lý con người. Nếu trẻ sống trong một môi trường gia đình tốt. Nhà trường không dạy cho học sinh tha hóa. Xã hội không có những tấm gương tha hóa và tham nhũng, thì chắc chắn trẻ sẽ không hoặc ít tha hóa.

Vì trẻ con và ngay cả người bình thường không phải là người có chức quyền, cũng không là thành phần ưu tú của xã hội, nên trẻ con và người bình thường không thể tham nhũng, mà chỉ có thể tha hóa. Khi người lớn tha hóa, để trẻ con bắt chước.

Nhưng trẻ con có thể là thành phần ưu tú của tương lai nắm vận nước, nên trẻ con cần những tấm gương tốt hiện thực ngay trong đời sống của chúng. Cha mẹ, anh chị, ông bà chiếm 80% thời gian sống gần gủi và lớn lên của một đứa trẻ. Nhà trường, xã hội và bạn bè chiếm 20% sống và gần gủi với trẻ trước khi vào đời. Nhưng tỷ lệ này đảo ngược lại khi trưởng thành.

Một đứa trẻ có đạo đức và nhân cách tốt khi vào đời làm việc trong một môi trường toàn tha hóa và tham nhũng, nó sẽ bị xem là một kẻ tâm thần, nếu nó không biết thoát ra khỏi môi trường ấy để tạo dựng một môi trường riêng thực sự trong sạch, ắt nó phải phá vỡ đạo đức và nhân cách của mình để hòa tan với tha hóa và tham nhũng.

Trẻ con không cần dạy phòng và chống tham nhũng như cái đề án 137 thí điểm giáo dục, mới vừa được ký quyết định để đưa vào chương trình học phổ thông trung học, và lồng ghép vào chương trình các cấp học từ năm học 2013 - 2014.

Trẻ con chỉ cần dạy khái niệm, định nghĩa thế nào là thoa hóa, thế nào là tham nhũng. Không cần dạy cả một chương trình đồ sộ vì người lớn có chức quyền làm bậy. Sau khi có khái niệm đúng, tự cuộc sống sinh động quanh trẻ sẽ giúp trẻ hiểu và thực hành đúng những gì nó học. Tự cuộc sống quanh trẻ sau khi bước vào đời, đời sẽ minh chứng cho trẻ cái nào nên giữ, cái nào nên từ bỏ. Đó là quy luật bàn tay vô hình trong cuộc sống.

Cái cần để tha hóa và tham nhũng giảm thiểu là chế độ chính trị minh bạch và tản quyền cao, để kiểm soát tốt mọi hành vi của quan lại triều đình sai trái. Không thể đánh tráo khái niệm từ chuyện tham nhũng của người lớn có chức có quyền, thành trò đem trẻ ra làm cái sọt rác, để thí nghiệm hết thế hệ này đến thế hệ khác như 70 năm qua.

Người cần dạy phòng chống tham nhũng là thành phần ưu tú trong xã hội đang nắm lấy vận mệnh quốc gia và dân tộc. Vì tham nhũng chỉ có ở tầng lớp này. Như vậy, cái đề án 137 có phải là sự ngược đời của nền giáo dục Việt Nam hiện nay không?

Tôi đã từng viết, đất nước mình hòa bình và thống nhất rồi, dân không ai muốn giành quyền lãnh đạo, mà dân chỉ muốn có cơm ăn áo mặc, đêm ngủ không gặp ác mộng vì cơm áo gạo tiền. Nên ngành giáo dục Việt Nam hiện nay không cần sáng kiến hay tối kiến làm gì nữa để tốn tiền của dân, chỉ cần đem nền giáo dục khai phóng của Việt Nam Cộng Hòa áp dụng thì nước Việt sẽ hùng cường, văn hóa Việt sẽ phục hồi. Nều không, tình trạng không chỉ văn hóa giáo dục mãi suy đồi, mà còn mãi tình trạng tiến thoái lưỡng nan trong kinh tế chính trị như ông phó thủ tướng bảo rằng, khó khăn khi tái cơ cấu vì không có nhân lực.







theo Nguon Tin

Wednesday, June 10, 2020

Chiêu dạy con chi tiền độc đáo của một ông bố

Từ năm cu Tí học lớp 2, vợ chồng anh Hưng đã nghĩ ra một cách vô cùng độc đáo để vừa cho phép cậu con trai tự quyết định mọi chi tiêu, lại vẫn kiểm soát được cách tiêu tiền của cậu con mới 8 tuổi.






Anh chị mở một tài khoản ngân hàng cho con trai, nhưng không giống như những tài khoản khác, ngân hàng của cu Tí có tên “ngân hàng mẹ”. Lẽ dĩ nhiên đã là “ngân hàng” thì gửi tiền phải có lãi.

Mỗi tuần anh chị cho Tí 30 nghìn tiền tiêu vặt, mỗi tháng là 120 nghìn, cộng với tiền mừng tuổi, tiền ông bà, cô dì chú bác cho, tặng… tất cả đều được gửi vào “ngân hàng mẹ”. Cứ mùng 3 hàng tháng, cu Tí lại lấy giấy bút để hai mẹ con cùng tính toán tiền lãi mỗi tháng. Lãi suất anh chị đưa ra là 1%/ tháng. Tiền lãi tiếp tục được cộng dồn vào số tiền gốc, tháng sau lại tiếp tục tính lãi.

Khi nào cu Tí cần tiền mua gì đó, sẽ hỏi ý kiến bố mẹ và phải trình bày xem số tiền cần dùng sẽ lấy từ nguồn nào: tiền mừng tuổi, tiền tiêu vặt hay tiền được cho… Nếu “tài khoản” gửi “ngân hàng mẹ” không đủ, Tí có thể tạm ứng trước tiền tiêu vặt hàng tuần. Tuy nhiên, “ngân hàng mẹ” quy định tạm ứng trước sẽ bị trừ 5 nghìn, nghĩa là chỉ còn 25 nghìn/ tuần; còn nếu “rút” tiền tiêu vặt sau sẽ được cộng thêm 5 nghìn. Và quy định là không được tạm ứng quá 2 tháng. Mọi lỗ lãi đều được hai mẹ con tính toán rất chi li và sòng phẳng.

Cũng chính vì thế, cu Tí học được cách chi tiêu rất tiết kiệm. Trước khi mua thứ gì đó, cu cậu tìm hiểu thông tin rất kỹ càng để tìm nơi nào có giá tốt nhất. Ngoài dùng google để tìm kiếm thông tin, nếu muốn mua đồ chơi, Tí đề nghị bố mẹ chở thẳng đến phố Lương Văn Can để khảo giá trước khi quyết định mua.

Từ việc mua gì, bao nhiêu tiền cho tới mua nó ở đâu…. Tí là người đưa ra quyết định, còn bố mẹ là người duyệt. Tuy nhiên, những món đồ được ưu tiên luôn là sách vở, đồ dùng học tập, đồ chơi… Do chỉ được phép tiêu số tiền của mình nên Tí luôn phải đắn đo suy nghĩ trước khi mua một món đồ nào đó. Tuy vậy, hai bậc phụ huynh cũng có những ngoại lệ. Như một lần cậu con trai muốn mua bộ đồ chơi Lego trong khi cu cậu chỉ có 300 nghìn, cộng thêm tạm ứng tiền tiêu vặt mà vẫn thiếu 70 nghìn, anh chị sẵn sàng chi thêm cho con trai.

Hay trong việc gửi tiền trả lãi, có lẽ do được rèn luyện tính toán từ nhỏ nên Tí có những “mưu mẹo” rất khôn. Mặc dù mồng 3 hàng tháng là ngày trả lãi nhưng mỗi khi có khoản tiền nào đó vào dịp cuối tháng, cu cậu gửi ngay mẹ để mồng 3 tháng sau được tính lãi cả số tiền đó. Những kế khôn vặt rất đáng yêu như thế này của con trai vẫn được anh chị vui vẻ chấp nhận.

Sau 2 năm sử dụng “ngân hàng mẹ” (năm nay Tí đã học lớp 4), tài khoản của cu cậu đã có 8 triệu – một con số không hề nhỏ với một cậu bé 10 tuổi, đặc biệt số tiền này lại nhờ vào tài chi tiêu có kế hoạch, hợp lý của Tí cộng thêm sự định hướng, kiểm soát nhất định của bố mẹ.

Ngoài việc tiết kiệm được một khoản kha khá, cu cậu cũng dần làm quen với việc lập kế hoạch chi tiêu, quyết định chọn mua những thứ cần thiết và biết cách tìm những nơi có giá tốt nhất để chi tiền.

Ngoài việc dạy con những bài học đầu tiên về quản lý tài chính, anh chị còn hướng dẫn Tí cách lập kế hoạch cho tương lai. Chỉ đơn giản là việc cu cậu sẽ làm gì trong tuần tới, tháng tới hay 2 năm tới. Do bố đang công tác tại Úc nên từ lâu Tí đã mơ ước được đặt chân tới đất nước của chuột túi. Trong bản kế hoạch dự kiến đi Úc của cu cậu có tất cả những chi tiết như sẽ đi đâu, làm gì, ăn gì, mua gì… Vợ chồng anh Hưng hoàn toàn bất ngờ khi cu cậu viết trong bản kế hoạch của mình là muốn tới Tasmania để trượt tuyết, hay không khỏi phì cười khi biết con trai dự định sẽ mua “hàu đại dương” của Úc về Hà Nội thưởng thức.

Mặc dù những dự định của Tí chẳng có gì cao siêu hay to tát, mà chỉ là những sở thích ngộ nghĩnh của một đứa trẻ nhưng với vợ chồng anh, điều đó cho thấy cu Tí đã biết vạch ra một kế hoạch bằng cách tìm kiếm thông tin về nó và chuẩn bị nó như thế nào. Theo quan điểm của anh chị thì một người thành công là người biết quản lý thời gian và quản lý tài chính. Đó cũng là lý do anh chị muốn con rèn luyện những kỹ năng này từ khi còn nhỏ.

Nguyễn Thảo

Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/124341/chieu-day-con-chi-tien-doc-dao-cua-mot-ong-bo.html





via Nguon Tin

Sunday, May 10, 2020

Tác giả Gangnam Style nói gì ở Harvard?

Ngôi sao mới nổi người Hàn Quốc đã khiến hàng trăm sinh viên và giảng viên Harvard cười no bụng suốt buổi trò chuyện nhờ khiếu hài hước hiếm có của mình.

Harvard, Gangnam Style, din thuyt, pht biu, tr chuyn, PSY

PSY nhận được sự chào đón ở Harvard

Ngôi sao người Hàn Quốc PSY – chàng trai nổi tiếng với điệu nhảy Gangnam Style được biết đến trên toàn cầu vừa được chào đón bởi hàng trăm fan hâm mộ ở ĐH Harvard.

Saturday, May 9, 2020

Sau buổi thi, một nữ sinh lớp 11 ở Vũng Tàu đã “chế” tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo” thành “Bìnhgô đại thí” giúp các bạn đọc cho vui để giảm căng thẳng.




Thi Lí…

Ta đi trễ

Địch ngạo nghễ

Bước vào trận chiến

Tung Kim cang chưởng

Ta dùi mài Cửu âm chân kinh

Chống đỡ

Chiêu thức biến hóa

Lấy nhu khắc cương

Qua bảy bảy bốn chín hồi

… Bất phân thắng bại

Cuối cùng ta bèn dùng Đả cẩu bổng pháp

Đánh lui giặc dã

Thế là

Tạm qua ải này…

.

Thi Hóa…

Gặp tên tướng giặc

Ban đầu tung hỏa mù

Khiến ta chới với

Thế sự xoay vần

Ta dùng kế điệu hổ li sơn

Đối lại

Địch ỉ có Đồ long đao

Phóng tới

Ta thủ thế

Võ Tòng tay không đánh hổ

Nhưng tên địch hống hách không phải tay vừa

Một cước Như lai thần chưởng

Đánh ta ngã ngửa

Trọng thương

Ta cố sức

Vận nội lực

Đổi qua múa bài Túy quyền

Ai ngờ địch khôn ngoan hơn

Tung Nhất dương chỉ

Điểm trúng tử huyệt

Một quyền cước khiến ta thổ huyết

Hận vì quá gian sảo

Ta tắc tử như Từ Hải…

.

Hắc hắc

Không phải ta thua vì kém cỏi

Chỉ là lũ giặc quỷ kế đa đoan…

Đau cho thân phận sĩ tử

Mỗi lần lên sàn thi như ra chiến trận

Dù trăm phương nghìn kế

Mưu cao võ giỏi

Cũng khó toàn thây trở về.

Và…

Hôm nay ta cũng vậy!



Lê Thị Quỳnh Châu(Lớp 11V – Chuyên Lê Quý Đôn, Vũng Tàu)

Nguon Tin

Tuesday, January 14, 2020

: Mấy suy nghĩ tản mạn về giáo dục

Bauxite Việt Nam Mạc Văn Trang, PGS TS Tâm lý học

Chiều thứ bảy tôi được báo: sáng thứ hai (13/01/2014) Bộ trưởng đến làm việc với Viện, mời lên nghe, trao đổi… Chẳng biết sẽ nói gì, sáng Chủ nhật ngồi bần thần rồi viết ra “Mấy suy nghĩ tản mạn về giáo dục”, thành tâm gửi đến Bộ trưởng và các đồng nghiệp để sẻ chia. Lòng thành, chẳng ngại đúng – sai!
TỄU - BLOG: Mạc Văn Trang: KỶ LUẬT CHU HẢO SẼ LÀ GIỌT NƯỚC TRÀN LY 
 

1. GD Việt Nam có một lợi thế (may mắn) là dân ta coi trọng sự học

Dù cha mẹ ăn đói, mặc rách, lam lũ kiếm sống vẫn quyết chí cho con đi học; con học giỏi, đỗ đạt, coi như thành công; con học hành không ra gì, dù làm ăn phát đạt cũng xấu hổ với họ hàng, làng xóm… Truyền thống đó giúp cho “xã hội hóa GD” đạt nhiều kết quả, nhưng vì thế, nhà nước đã quá lạm dụng gây nên mất cân đối giữa sự đóng góp của dân với trách nhiệm của nhà nước cho GD; truyền thống đó cũng là một động lực khiến trẻ em Việt ở nước ngoài thường có thành tích học tập tốt, nhất là cộng đồng người Việt tại nước Đức. Truyền thống đó là vốn quý của dân tộc cần được nuôi dưỡng và phát huy phù hợp với thời kỳ mới.


2. Các cuộc cải cách GD nóng vội thường thất bại nhiều hơn thành công!

Đó là vì khi cải cách GD người ta thường lắm kỳ vọng, “duy ý chí”, không đảm bảo các điều kiện thực hiện và không tính hết những tác động, những “lực cản” xã hội. Không nhà khoa học nào có điều kiện thuận lợi hơn Hồ Ngọc Đại để thực hiện cuộc “cách mạng GD” bằng thực nghiệm “Xây dựng mô hình nhà trường mới …”, nhưng sau 35 năm “chỉ làm mỗi một việc thực nghiệm GD” mà rút lại, có công nghệ dạy tiếng Việt lớp 1 coi như thành công! Những cuộc “đổi mới trong ổn định”, không ồn ào thì thành công nhiều hơn, như người Pháp đưa giáo dục Tây vào từ từ thay nền Nho học Việt Nam thời Pháp thuộc, đã đạt thành tựu vĩ đại! Đó chính là “Đổi mới căn bản, toàn diện GD”! Nền GD đó đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của nó, tạo ra được một tầng lớp tinh hoa cho xã hội, xây dựng nên một nền văn hóa mới, những dấu mốc lịch sử phát triển của khoa học, văn học, kiến trúc, hội họa, y học, giáo dục… vươn tới tầm văn minh thế giới đầu thế kỷ XX. Tầm nhìn và cách phát triển có lựa chọn, tạo ra “mũi nhọn”, đỉnh cao trong GD của họ, ngày nay vẫn rất đáng suy nghĩ…

3. Hệ thống và cơ chế quản lý áp đặt và đồng loạt trong GD đã làm hỏng các cơ sở GD

Mỗi trường học là một thiết chế giáo dục, nó sống và phát triển trong mối quan hệ với một cộng đồng đặc thù, phục vụ cho nhu cầu của một cộng đồng đặc thù, tạo nên truyền thống riêng, văn hóa riêng, giá trị riêng… Chỉ có hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên, giảng viên (GV) của trường ấy qua nhiều thế hệ mới làm nên truyền thống, “thương hiệu” đặc sắc cho trường của họ. Vậy mà ta nhập, tách, xóa trường cũ, lập trương mới… tùy tiện. Sự khác biệt và tạo giá trị tri thức cao làm nên đẳng cấp, danh tiếng của mỗi trường đại học. Trường đại học nhan nhản, trường nào cũng giống nhau thì còn giá trị gì! Hy vọng quyền tự chủ không chỉ với trường đại học mà trường phổ thông cũng dần được tăng lên. Tự chủ mới phát triển tính tích cực, sáng tạo và trách nhiệm…

4. Sự bất bình đẳng trong giáo dục ngày càng trầm trọng

Nhân loại thường hy vọng: trước thánh đường, trước tòa án, trong trường học mọi người đều tìm thấy sự bình đẳng. Hiện nay sự bất bình đẳng GD gây nhiều bức xúc, lâu dài có thể là một trong những mầm mống của bất ổn xã hội. Ngay từ Mầm non, con em người lao động bị “đọa đầy” trong những nhóm trẻ tự phát với biết bao thảm cảnh như mọi người đã thấy; trong khi đó con tầng lớp trung lưu “chiếm giữ” hầu hết các trường mầm non công lập; con em tầng lớp giàu được nuôi dưỡng trong các trường mầm non tư thục chất lượng cao, trường quốc tế… Càng lên cao, sự bất bình đẳng về cơ hội trong GD càng lớn. Con em tầng lớp quan chức, người giàu, dù vừa dốt vừa hư cũng thừa cơ hội đi du học nước ngoài, về nước vẫn dễ chiếm những chỗ làm “bở béo”… Cảm nhận sự bất bình đẳng đó, sinh ra tâm trang bất bình của người dân ngày càng cao. Tạo ra sự bình đẳng về cơ hội GD cho con em mọi tầng lớp xã hội là sứ mệnh đầy khó khăn và thiêng liêng của GD.

5. Không phải dân ta chỉ thích “đại học”, không chịu “phân luồng” đi học nghề !

Dân ta thực dụng lắm, học cái gì có việc làm, có thu nhập tốt là lao vào học thôi! Vấn đề là chính sách đầu ra của người tốt nghiệp trường nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp chưa hợp lý. Chính sách lương bổng, đãi ngộ và đánh giá con người của nhà nước ta vẫn theo bằng cấp, chứ không theo năng lực thực, nên mới đổ xô học đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, cốt có tấm bằng, vừa oai, vừa lợi! Hãy nhìn vào thực tế: bao nhiêu nam nữ thanh niên đang chen nhau, nộp hàng trăm triệu đồng để được đi xuất khẩu lao động, thực chất là tha phương cầu thực, làm “cu li” kiếm món tiền chứ có phải “vì ham bằng cấp, danh giá” gì đâu! Cho nên mấu chốt của “phân luồng”, đào tào nghề là hiệu quả đầu ra, chính sách đảm bảo cuộc sống cho người lao động.

6. GD bất ổn từ gia đình

Từ “đổi mới” đến nay, cả xã hội và mỗi gia đình Việt Nam có nhiều biến động sâu sắc. Di chuyển xã hội (Social Mobility) là vấn đề lớn mà GD chưa tính đến. Ở nông thôn, các gia đình thường cả bố mẹ hoặc một trong hai người đi kiếm ăn xa, con trẻ chịu nhiều thiệt thòi về GD. Công nghiệp hóa, đô thị hóa ào ạt, hầu hết những gia đình trẻ, nghèo ở đô thị và các khu công nghiệp sống trong môi trường gia đình không đảm bảo điều kiện phát triển bình thường của trẻ. Nhiều người mải theo đuổi “thương trường”, phó mặc con cho “ôsin”, trẻ thiếu sự ru nựng, vỗ vễ, âu yếm của mẹ, của bà; ít được tiếp xúc với thiên nhiên, xã hội, lại bị “ô sin” cho xem tivi suốt ngày, não đứa trẻ phải tạo cơ chế trơ, ì trước các thông tin nhiễu loạn… Phải chăng vì thế, trẻ tự kỷ gia tăng đáng sợ!? Con các tầng lớp quan chức, nhà giàu cũng chẳng hay gì về GD. Ngay từ bé trẻ đã biết bố mẹ có quyền và tiền, chẳng cần học giỏi cũng có “tương lai huy hoàng”! Thêm nữa, nhiều em có thể “rút tiền” từ bố mẹ, ăn chơi thỏa sức… Đạo làm người phải được GD từ gia đình là cơ bản. Cha mẹ đã tham nhũng, hối lộ, sống thủ đoạn, nói và làm giả dối, tham lam, mê tín … làm sao để con thành người lương thiện, tử tế? Có người nói: “Học sinh nghèo vượt khó đã giỏi, nhưng học sinh giàu “vượt sướng” còn khó hơn”! Việt Nam cùng mô hình giống Trung Quốc, nên nước họ cũng đang giải quyết vấn đề các “Cao cán đệ tử”… GD cùng các tổ chức liên quan cần có một chiến lược cải thiện GD gia đình …

7. GD bất ổn từ nhà trường

GV bị sức ép vô lối từ các cấp quản lý, sinh ra đối phó, triệt tiêu tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm cá nhân – vốn là đặc tính lao động tự thân của nghề GV. Học sinh bị áp lực từ gia đình, từ GV, học bị động, đối phó, căng thẳng, rập khuôn, triệt tiêu hứng thú, sáng tạo, tự tin… Thoát khỏi áp lực là không có nhu cầu, hứng thú tự thân để tự học, tự tìm tòi khám phá… Cho nên học rất nhiều mà đọng lại ít! “Thi đua” của Cụ Hồ mới đầu là hay, là thật, nhưng dần dần đã bị sai lệch, lặp lại mãi thành nhàm chán; ai cũng thấy nó hình thức, chẳng ích lợi gì, còn thêm mất thì giờ, tốn kém và gây ra bệnh thành tích gian dối, nhưng không ai đủ bản lĩnh chấm dứt nó đi! Thử đếm xem Vinashin, Vinalines đã nhận bao nhiêu cờ thi đua, danh hiệu nọ kia ầm ĩ một thời?! Về GD, có mấy nước trên thế giới có kiểu “thi đua” trong GD như ở ta?! Vậy sao GD của họ vẫn thành công? Hãy để cho nhà trường có cuộc sống tự nhiên, bình thường!

8. Đừng đổ tại mặt trái của cơ chế thị trường

Các cơ quan nghiên cứu đến quản lý từ trên xuống dưới đều đổ cho “mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động làm suy thoái đạo đức, lối sống của xã hội, nhất là lớp trẻ”... Cái gì chẳng có mặt trái! Sao các nước có thị trường phát triển hàng trăm năm, hay những nước mới từ “xã hội chủ nghĩa” chuyển sang tư bản, như Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc và ngay cả Nga… nền GD của họ sau khi chuyển sang cơ chế thị trường, có khủng hoảng vài ba năm, liền ổn định và tốt đẹp hơn thời XHCN? Tôi đã tìm hiểu thực tế học sinh người Việt học tại Ba Lan, Đông Đức (cũ) thấy trẻ từ mầm non đến hết phổ thông, đi học không mất tiền (trừ vài ba trường tư và trường quốc tế với quy mô nhỏ bé, ở thành phố lớn). Sinh viên học trường đại học công không phải đóng học phí và ở ký túc xá miễn phí. Trẻ dưới 18 tuổi không được mua, sử dụng rượu, bia, không được bén mảng đến “nhà nghỉ”, “quán cà phê đèn mờ”, nơi người lớn “ăn chơi”… Những dịch vụ “nhạy cảm” không thấy ở quanh trường học, khu dân cư… Chính quyền đã quản lý rất chặt “mặt trái của cơ chế thị trường”, hạn chế tối đa các tác hại của nó với xã hội, nên nó không thể hủy hoại GD, y tế… như ở Việt Nam. Tại sao họ làm đươc? Mặt trái của thị trường cũng như mặt trái của mỗi con người, chính quyền của ta đã không quản lý nổi cả hai cái mặt trái đó, để nó “tích hợp” vào nhau “hai trong một”, tác oai, tác quái gây nên bao ung nhọt, tệ nạn cho xã hội và GD. Bằng cách nào và đến bao giờ mới loại bỏ được nguồn gốc gây ra các tệ nạn ấy? Một mình ngành GD chỉ cố vùng vẫy, chứ làm sao thoát ra được! Vì thế hãy nhìn vào thực trạng, nguyên nhân xã hội của GD để tìm giải pháp, chứ đừng đổ tại “mặt trái của cơ chế thị trường”!

9. Mỗi con người là một cá thể có một không hai, không lặp lại. Bản chất của GD là “Một nền GD làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em” (Hồ Chí Minh, 1945); “GD làm cho mỗi trẻ em phát triển trở thành chính nó” (Hồ Ngọc Đại, 1978), đó là những triết lý GD rất cơ bản, có hiểu và hành đúng như vậy, GD mới thực sự tôn trọng con người, phát huy giá trị mỗi con người. GD của ta thì làm ngược lại, nhằm đến sự “bình quân về nhân cách”, bắt tất cả theo một khuôn mẫu, em nào vượt ra khỏi khuôn mẫu đó là thuộc “diện cá biệt”, phải dùng các “biện pháp nghiệp vụ” để đưa vào khuôn phép! Tạo hóa đã sinh ra mỗi con người không ai giống ai là để làm nên sự khác biệt, phong phú, đa dạng của cuộc sống loài người. GD phải tôn trọng sự khác biệt, “làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có” của mỗi em, “trở thành chính nó” để nó tự do, tự tin, tự chủ sáng tạo ra những giá trị khác biệt cho xã hội, cho nhân loại. Tất nhiên chỉ số ít học sinh có thể đạt đến sự sáng tạo mới, đem lại giá trị mới, khác biệt cho nhân loại. Nhưng số ít ấy phải phát triển dựa trên nền GD “khai phóng và nhân bản”. Để đạt được điều đó không chỉ đổi mới phương pháp GD mà phải thay đổi hẳn quan niệm về mỗi cá nhân con người, thay đổi hẳn cách nhìn nhận, đánh giá về mỗi học sinh…

10. GD là đem lại sự phát triển những giá trị Chân, Thiện, Mỹ, Ích ở người học (Tsunesaburo Makiguchi, 1871-1944)

Chân, Chiện, Mỹ thì xưa nay ở ta nói nhiều, nhưng “Ích” thì ít bàn đến. Người Nhật rất coi trọng GD giá trị Ích. Học gì, làm gì cũng phải nhằm đem lại ích lợi cho bản thân, cho tổ chức, cho xã hội; làm sao để tiết kiệm hơn, tiện ích hơn, hiệu quả hơn… Ngay trong gia đình, nhà trường, trẻ đã được GD tiết kiệm tiền, của, thời gian, sức lực bằng cách suy nghĩ, hành động sao cho hợp lý nhất. Xem đội bóng U19 Việt Nam và U19 Nhật Bản thi đấu ta thấy: các cầu thủ Việt như cố phô diễn kỹ thuật cá nhân nhanh nhẹn, khéo léo, lắt léo, trổ tài cho khán giả xem; còn các cầu thủ Nhật thì toan tính từng đường bóng để đạt hiệu suất ghi bàn tối đa. Kỹ thuật gần như nhau, nhưng đầu óc suy nghĩ khác hẳn nhau. Huấn luyện viên không dễ thay đổi cái “máu” này của người Việt. Cha chú họ là những nông dân đua nhau trồng mía, rồi chặt mía trồng điều, chặt điều trồng ca cao, chặt ca cao trồng cà phê … Rồi đua nhau làm những cái bánh chưng, bánh dầy to nhất, bộ ấm chén lớn nhất, cái ghế, đôi guốc to nhất, chiếc mõ vĩ đại nhất, chai rượu lớn nhất… chỉ cốt lập kỷ lục được ghi vào Guiness Việt Nam! Rồi những ông nông dân bỏ ra tiền tỉ với bao công sức để tự chế “máy bay trực thăng”, “tàu ngầm”!… Một “nước còn yếu, dân còn nghèo” mà biết bao chuyện làm ăn lãng phí, vô bổ, bi hài! “Muốn trở thành người có ích, hãy bớt làm những việc vô ích” (Ngô Bảo Châu, 2011). Rất đúng! Nhà trường hiện nay nói bao nhiêu điều nhàm chán vô ích; dạy bao nhiêu cái vô bổ, thừa thãi, không cần thiết; thi đua làm bao nhiêu việc nửa vời, không đến nơi đến chốn; mua sắm bao nhiêu thiết bị dạy học dùng ít, hỏng nhiều, bỏ xó; bắt học sinh mua bao nhiêu tài liệu “ăn theo” sách giáo khoa, chất đầy cặp mà chẳng dùng đến… Chân, Thiện, Mỹ vu vơ, bằng cấp đầy mình mà không đem lại Ích lợi, thì học mãi cũng không tạo ra giá trị xã hội; đào tạo nguồn nhân lực xô bồ, số lượng nhiều mà chất lượng kém, không thể cạnh tranh thành công thì ích lợi gì, lãng phí bao nhiêu?

11. GD tuân theo quy luật mới phát triển tự nhiên, bền vững

Chắc có nhiều quy luật, tôi không rõ lắm, nhưng trong Tâm lý học ít nhất có ba quy luật chung cần cho GD.

- Một là, quy luật phát sinh cá thể (Ontogenetic), tức là từ trong bào thai cho đến hết cuộc đời, mỗi giai đoạn phát triển, con người có những đặc điểm đặc trưng của giai đoạn đó và những tiền đề cho phát triển của giai đoạn sau. Nếu GD phù hợp đặc điểm của giai đoạn phát triển sẽ khiến học sinh vui thích, hứng thú vì nhu cầu được đáp ứng; hơn nữa nếu GD tác động vào “vùng phát triển gần nhất” (Lev Vygotsky 1896 - 1934), sẽ kích thích sự phát triển sớm hơn, mạnh mẽ hơn của học sinh. GD là tạo ra sự phát triển. “Đi học là hạnh phúc”, đối với học sinh “Hạnh phúc là phát triển” (Hồ Ngọc Đại, 1980). Đi sâu vào, còn những quy luật phát triển nhu cầu, hứng thú, nhận thức, xúc cảm, hành vi… của học sinh các giai đoạn phát triển. GD phù hợp tâm, sinh lý lứa tuổi mới đem lại những điều bổ ích và lý thú, tạo ra sự phát triển tự thân, bền vững. Cũng như ăn uống, cứ nhồi nhét cho trẻ những thứ mà người lớn tưởng là cần thiết, nhưng trẻ không tiêu hóa được, thì chẳng ích lợi mà còn gây hại!

- Hai là, quy luật phát sinh loài (Philogenetic), tức là quy luật về sự tiến hóa, phát triển của loài, ở đây chỉ nói về quy luật phát triển “trí khôn của loài người”. Trong các loài động vật, chỉ có con người là có khả năng GD, tức là có thể khách quan hóa, cụ thể hóa, vật thể hóa kinh nghiệm của bản thân ra bên ngoài thành công cụ, đồ vật, ngôn ngữ để có thể dùng hành động cùng với lời nói, truyền đạt kinh nghiệm của mình cho người khác. Nhờ khả năng đó mà trí khôn loài người phát triển hơn muôn loài. Khi loài người sống khép kín trong những cộng đồng nhỏ hẹp thì “già làng”, “trưởng bản” là những người có kinh nghiệm cao nhất. Nhờ “làn sóng thứ nhất”, “làn sóng thứ hai”… trí khôn của nhân loại đã hòa thành một dòng chảy liên tục, đến “làn sóng thứ ba” (Alvin Toffler, 1990), thế giới đã thành “Thế giới phẳng” (Thomas L. Friedman, 2008). Cá nhân nào, nhóm người nào, dân tộc nào bắt kịp vào dòng chảy của trí khôn nhân loại thì có cơ hội phát triển cùng thời đại; ngược lại, tách khỏi dòng chảy đó thì cứ dẫm chân tại chỗ, như các nhóm người nguyên thủy vẫn còn tồn tại ở rừng Amazon và một số nơi. Nếu Việt Nam không đổi mới hòa nhập vào thế giới thì vẫn cái vòng khép kín: “Dưới ruộng, ông lão đi bừa/ là con ông cụ ngày xưa đi cày”! GD phải đưa học sinh, sinh viên hòa nhập vào dòng chảy của trí khôn nhân loại để bứt lên, đưa dân tộc theo kịp thời đại, tránh nguy cơ tụt hậu ngày càng xa…

- Ba là, quy luật về sự khác biệt cá thể giữa các học sinh. Có học sinh “học một biết mười”, có em “học mười chưa được một”; có em chưa nói đã tự hiểu; có em nói một lần thì tự sửa được thói xấu, có em uốn nắn một trăm lần cũng lúc được lúc không! GD phải chấp nhận mọi trẻ em và coi trọng GD cá biệt hóa. GD bằng ưỡng ép cũng có kết quả trước mắt. Nhưng từ cưỡng ép phải dẫn đến tự do mới phát triển bền vững và nhân văn. GD không thể đạt được thành công như nhau với mọi trẻ em. Nhưng GD phải đem lại cho mọi trẻ em sự phát triển hơn những gì nó đang có, và đó là đem lại “hạnh phúc” cho mọi đứa trẻ.

12. Dạy phân hóa ở Trung học và giáo dục hướng nghiệp, tuyển chọn phù hợp nghề để đào tạo là hợp quy luật, hiệu quả

Thị trường lao động chỉ mua – bán những hàng hóa sức lao động đáp nhu cầu và yêu cầu của nó; đào tạo nghề và đại học khác GD phổ thông, là trực tiếp tạo ra giá trị sức lao động, thành hàng hóa cạnh tranh trên thị trường lao động. Hàng chất lượng cao, giá đắt vẫn bán chạy; hàng kém chất lượng, bán rẻ cũng ế…(xem tuyển chọn, đào tạo và mua - bán cầu thủ bóng đá thì rõ). Muốn nguồn nhân lực từ người giúp việc gia đình đến công nhân, kỹ sư, bác sĩ, GV …có chất lượng cao, cần: 1) Phân tích nhu cầu, yêu cầu của thị trường lao động; 2) Xác định yêu cầu của nghề đáp ứng đòi hỏi của thị trường lao động; 3) Hướng nghiệp, tuyển chọn những học sinh phù hợp nghề vào đào tạo (Đặc điểm cá nhân phù hợp với nghề mới học nhanh, phát triển cao, bền vững…); 4) Các cơ sở đào tạo phải đảm bảo các điều kiện theo chuẩn mực để tạo ra giá trị sức lao động của người học đáp ứng yêu cầu của thị trường (người sử dụng lao động). Cùng với kiến thức và kỹ năng chuyên môn, người lao động phải được giáo dục, rèn luyện về đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp theo yêu cầu của từng vị trí làm việc. Người nào “những năng lực sẵn có” phù hợp với nghề nghiệp, công việc sẽ học và hành nghề hiệu quả hơn, lợi cho cá nhân và xã hội.

13. Việc đổi mới thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học Bộ vừa đề xuất có chiều hướng tốt hơn.

Nên thi THPT theo phương án Một: thi 02 môn bắt buộc và 02 môn tự chọn, như vậy vẫn tập trung vào những môn trọng yếu và nhẹ nhàng hơn. Tuy nhiên việc miễn thi cho 20% số học sinh là vấn đề cần xem xét, vì cái gì có “xét duyệt” mang tính chủ quan là y như có tiêu cực! Chỉ cần một trường hợp bất minh sẽ gây tác động tâm lý tiêu cực đến học sinh và cha mẹ học sinh toàn trường… Việc tuyển thẳng những học sinh có thành tích ba năm học tập tốt vào đại học trước đây đã gây nhiều tiêu cực, bức xúc, phải điều tra, hủy bỏ (năm 2000). Tốt nhất chỉ nên miễn thi cho những học sinh đạt giải trong các cuộc thi học sinh giỏi cấp tỉnh, quốc gia, quốc tế, có bằng chứng công khai, minh bạch.

Việc các trường đại học tự tổ chức thi cần có biện pháp kiểm soát, tránh tình trạng trước đây đã diễn ra: GV tổ chức luyện thi rồi nhận trước tiền “đặt cọc”, nếu không đỗ vào trường sẽ trả lại (!)… Cái gì dù hay hơn, vẫn có “mặt trái” phải có biện pháp kiểm soát hữu hiệu thì cái hay mới phát huy giá trị.

14. Nghiên cứu khoa học GD rất khó, vì khoa học về con người, phát triển thế hệ trẻ của dân tôc đáp ứng yêu cầu của thời đại…

Nó đòi hỏi vừa nghiên cứu cơ bản, vừa thực nghiệm, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của ta vừa cập nhật các thành tựu mới của thiên hạ; nghiên cứu từ những vấn đề chung nhất như Triết học GD, Xã hội học GD, Kinh tế học GD, khoa học Quản lý GD, khoa học Phát triển Chương trình, nội dung GD… cho đến những vấn đề vi mô như đo nghiệm IQ, EQ, SQ … của học sinh; quy luật nhận thức, tư duy, trí nhớ, nhu cầu, tình cảm … đến tâm vận động và hình thành thao tác ở trẻ….; rồi chẩn đoán, trị liệu cho trẻ rối nhiễu tâm thần, trẻ tự kỷ, trẻ câm, mù, điếc… Để có chuyên gia về mỗi lĩnh vực dù “vĩ mô” hay “vi mô” phải có người chuyên tâm nghiên cứu, thực nghiệm, phổ biến khoa học, tổng kết… chừng 15 – 20 năm. Họ cần có lương đủ sống (không phải ngó nghiêng, nhấp nhổm kiếm ăn); chuyên tâm theo đuổi chuyên ngành khoa học tương đối ổn định, lâu dài; môi trường làm việc thuận lợi; điều kiện vật chất, tài chính đảm bảo tối thiểu cho hoạt động. Cách quản lý khoa học luôn “tái cấu trúc” theo nhiệm kỳ quản lý đã gây bao xáo trộn, bất an, khiến đội ngũ hẫng hụt, phân tán, thiếu đồng bộ, kém hiệu quả… Hy vọng một tầm nhìn mới, cách quản lý mới sẽ tạo ra sự phát triển mới cho khoa học GD nước nhà.

Xin tạm dừng. Lòng thành, vô tư, mong thấu tỏ!

Hà Nội, ngày 12/01/2014

M. V. T.

Tác giả trực tiếp gửi cho BVN


Bạn Nên Xem:

Bài Viết Liên Kết